1. Tóm tắt nghiên cứu:
Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng giấc ngủ và xác định một yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ở thai phụ tại xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi, sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên 103 thai phụ được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu thập số liệu qua phiếu phỏng vấn dựa trên thang đo PSQI đã được chuẩn hoá và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả cho thấy tỷ lệ thai phụ có chất lượng giấc ngủ không tốt (PSQI > 5) là 67%, với điểm trung bình PSQI là 7,86 ± 3,88; các vấn đề phổ biến nhất bao gồm thức dậy giữa đêm hoặc quá sớm (89,3%), khó vào giấc ngủ trong 30 phút (81,6%) và cảm giác nóng (76,7%). Mô hình hồi quy logistic đa biến xác định 4 yếu tố có ý nghĩa thống kê (p < 0,05): tuổi 25–34 (OR = 8,768 so với ≥35 tuổi), trình độ học vấn từ trung cấp trở lên (OR = 7,376 so với ≤ THPT), sinh từ lần thứ hai trở đi (OR = 3,662 so với sinh con lần đầu) và tiểu đêm (OR = 3,744, làm giảm chất lượng giấc ngủ). Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị đối với các ban ngành địa phương cùng phối hợp nhằm cải thiện sức khỏe giấc ngủ cho bà mẹ trong thai kỳ, đặc biệt ở vùng miền núi để từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống trong thai kỳ cho người phụ nữ.
2. Thuyết minh phạm vi ảnh hưởng của đề tài:
Đề tài được thực hiện tại xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi – một địa bàn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, nơi chưa từng có nghiên cứu nào đánh giá chất lượng giấc ngủ ở thai phụ. Đây là nghiên cứu đầu tiên trên địa bàn sử dụng công cụ chuẩn quốc tế (PSQI), đã được chuẩn hóa tiếng Việt và có độ tin cậy cao (Cronbach’s α = 0,83) góp phần lấp đầy khoảng trống về dữ liệu giấc ngủ thai kỳ ở vùng sâu với đặc điểm dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn như Măng Đen – nơi mà các nghiên cứu trước đây hầu như tập trung ở đô thị, các thành phố lớn.
Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng rối loạn giấc ngủ của các thai phụ (67% thai phụ có chất lượng giấc ngủ không tốt), đồng thời xác định 4 yếu tố có ý nghĩa thống kê (tuổi, trình độ học vấn, số lần sinh nở, tiểu đêm). Từ đây cung cấp một bức tranh đầu tiền về vấn đề này, giúp các ban ngành có thể xác định được thực trạng và tạo cơ sở để xây dựng các mô hình biện pháp can thiệp phù hợp nhằm cải thiện chất lượng giấc ngủ, nâng cao chất lượng cuộc sống thai kỳ cho người phụ nữ góp phần bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh ở vùng nông thôn miền núi.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu này có thể tích hợp, lồng ghép ngay vào quy trình quản lý tư vấn thai sản thường quy, giúp nâng cao năng lực phát hiện sớm và quản lý toàn diện tại các Trạm Y tế xã Măng Đen và các trạm y tế lân cận, đặc biệt qua đội ngũ y tế thôn bản. Các khuyến nghị đối với các ban ngành được thiết kế phù hợp với đặc thù vùng nông thôn, miền núi, đòi hỏi sự đồng bộ hóa nhằm đem lại hiệu quả cải thiện cao nhất có thể đạt được.
Nhìn chung phạm vi ảnh hưởng của nghiên cứu tập trung ở cấp cơ sở và địa phương. Nhưng nghiên cứu này có thể là bước mở đầu quan trọng đặt ra tính phổ biến của vấn đề trong cộng đồng dân cư ở vùng nông thôn – miền núi, dẫn đường cho những nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này ở cấp tỉnh và khu vực. Kết quả nghiên cứu không chỉ đáp ứng yêu cầu khoa học, mà còn sát thực với nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và chăm sóc sức khỏe toàn dân.
3. Thuyết minh hiệu quả áp dụng của đề tài:
Đề tài của chúng tôi đã đưa ra một số phát hiện chính làm căn cứ để đề xuất khuyến nghị gồm:
Tỷ lệ thai phụ có chất lượng giấc ngủ không tốt là 67%. Đây là bằng chứng thực tiễn đầu tiên cho thấy rối loạn giấc ngủ là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại địa bàn xã miền núi Măng Đen – nơi chưa từng có dữ liệu trước đây.
Các yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ của thai phụ gồm: tuổi (25–34 có giấc ngủ tốt hơn nhóm ≥35), trình độ học vấn (trình độ học vấn cao hơn có giấc ngủ tốt hơn), số lần sinh nở (≥2 lần thường giấc ngủ tốt hơn) và tiểu đêm (làm giảm chất lượng giấc ngủ).
Các vấn đề gây khó ngủ được ghi nhận phổ biến: thai phụ bị thức dậy giữa đêm hoặc dậy quá sớm(89,3%); không thể ngủ trong vòng 30 phút sau khi lên giường (81,6%); cảm thấy nóng (76,7%) và một số vấn đề khác như đau nhức, chuột rút, tiểu đêm. Và hầu như các đối tượng không sử dụng thuốc ngủ (99%).
Từ những phát hiện trên, nghiên cứu đã đề xuất các khuyến nghị đối với các ban ngành mang tính khả thi và phù hợp bối cảnh miền núi có thể được triển khai như sau:
Đối với Sở Y tế Quảng Ngãi và Trung tâm Y tế Kon Plông:
Tích hợp đánh giá giấc ngủ (có thể dùng phiếu sàng lọc đơn giản) vào phiếu khám thai định kỳ.
Tập huấn cho y tế thôn bản và nhân viên trạm y tế xã về cách nhận diện rối loạn giấc ngủ và tư vấn ban đầu.
Biên soạn sổ tay “Giấc ngủ khỏe cho mẹ bầu miền núi”, có hình minh họa, nội dung đơn giản, sử dụng song ngữ giữa tiếng phổ thông và địa phương nếu cần.
Đối với chính quyền xã Măng Đen:
Thành lập “Nhóm hỗ trợ mẹ bầu” ở thôn, nơi thai phụ chia sẻ kinh nghiệm, giảm căng thẳng lo âu .
Phối hợp với trạm y tế tổ chức các buổi truyền thông tại nhà sinh hoạt cộng đồng, tập trung vào nhóm nguy cơ (mang thai lần đầu, học vấn thấp).
Đối với ngành Giáo dục và các tổ chức xã hội:
Lồng ghép kiến thức giấc ngủ vào chương trình tiền hôn nhân tại trung tâm học tập cộng đồng.
Tổ chức lớp yoga, hít thở sâu cho thai phụ tại trung tâm văn hóa – thể thao xã (chi phí thấp, không cần thiết bị).
Về chính sách BHYT và giám sát y tế:
Đề xuất đưa “tư vấn giấc ngủ thai kỳ” vào danh mục BHYT chi trả nhằm giảm rào cản tài chính cho người dân.
Lồng ghép chỉ số “giấc ngủ thai phụ mất ngủ” vào hệ thống giám sát sức khỏe bà mẹ của ngành y tế địa phương → giúp theo dõi xu hướng và đánh giá hiệu quả can thiệp.
Dựa vào đó Trung tâm Y tế Kon Plông và các Trạm Y tế thuộc xã Măng Đen có thể trực tiếp triển khai các khuyến nghị (tư vấn, truyền thông, nhóm hỗ trợ). Như vậy, có thể thấy hiệu quả áp dụng của đề tài chủ yếu tập trung tại đơn vị, cơ sở. Tuy nhiên có thể xem xét nhân rộng các trung tâm y tế và các trạm y tế xã vùng cao trong tỉnh Quảng Ngãi có điều kiện tương tự (dân tộc thiểu số, tiếp cận dịch vụ hạn chế) hoặc các chương trình truyền thông sức khỏe sinh sản khác.
Nhìn chung, đề tài không chỉ lấp đầy khoảng trống dữ liệu tại một xã miền núi mà còn đề xuất giải pháp thực tiễn, chi phí thấp, dễ triển khai, dựa trên bằng chứng khoa học rõ ràng từ các phân tích thống kê. Việc thực hiện các khuyến nghị sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc thai sản toàn diện, giảm nguy cơ biến chứng sản khoa và cải thiện sức khỏe tâm thần cho bà mẹ mang thai – đặc biệt trong bối cảnh y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa.
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Tịnh Tâm
Thành viên: Nguyễn Thị Thanh Giang, Nguyễn Hồng Hà, Hà Thị Thu Chi, Đặng Quốc Thanh